4,110. So sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây. Các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia cổ đại phương tây là các quốc gia ra đời sớm nhất trên thế giới. Nó đã mở ra thời đại văn minh cho con người, thời đại xã hội có giai cấp và nhà nước
Khác nhau: Phương Đông: - Văn minh phương Đông dùng chỉ cho các nền văn minh Trung Hoa cổ xưa, Ấn Độ cổ xưa, Ba Tư cổ. Các đặc trưng về tư tưởng, phong tục, hội họa, kiến trúc, tôn giáo thời kỳ này tạo nên một nét đẹp của người phương Đông. - Bao gồm các quốc gia
Tài liệu So sánh văn hóa phương tây và văn hóa phương đông có mã là 372351, file định dạng doc, Minh triết phương Đông và triết hcoj phương Tây. Mã: 364756 Dạng:.rar Page: 132 Size:992 Kb Tải: 09 Xem:153. Xem . Văn hóa coòng chiêng Tây nguyên.
So sánh văn minh Phương Đông và phương Tây: P1 Văn minh nhân loại phát triển hàng vạn năm qua, đa dạng mà thống nhất. Con người là một thực thể tự nhiên mang tính xã hội vì vậy ko thể ko chịu tác
Phương Đông. để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây. Phương Tây. Phương Tây chủ yếu là
cash. Tâm sự Thứ tư, 20/10/2010, 1934 GMT+7 From hai nguyenSent Tuesday, October 19, 2010 1126 PM Về quan điểm của anh Mark do liên quan đến bình đẳng nam nữ, tôi xin đưa những ý kiến thế này Nếu anh Mark tìm hiểu lịch sử Việt Nam về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, anh Mark sẽ hiểu rằng xã hội Việt Nam trong một thời gian dài là chế độ mẫu hệ, trong đó vai trò của người phụ nữ trong gia đình là rất lớn. Điều đó ít nhiều vẫn được duy trì đến ngay nay, với nhiều người phụ nữ Việt Nam có vị trí lớn trong xã hội. Vì thế, khi nói phụ nữ Việt Nam khổ cực thì xin hãy đưa ra những cơ sở để so sánh. Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tôi xin nói rằng phần nhiều vì muốn mưu cầu một cuộc sống vật chất tốt hơn ở Việt Nam. Ngược lại, không ít đàn ông nước ngoài tìm đến phụ nữ Việt Nam là vì họ không có tiền để lấy vợ bản địa và thấy người phụ nữ Việt Nam có rất nhiều nét truyền thống như phục vụ và biết chiều chuộng họ hơn phụ nữ bản địa. Chẳng hạn như đàn ông Đức rất thích lấy vợ Thái Lan cũng một phần bởi lý do này. Nhưng đó chỉ là một vế của vấn đề tổng thể. Người phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng ngoại cũng có rất nhiều cái khổ, chứ cũng không trọn vẹn, ví dụ như bất đồng ngôn ngữ văn hóa, lối sống... Về lý do tại sao phụ nữ Việt Nam và châu Á thường theo chồng và nhà chồng, trong cuộc sống phương Tây, tính tự lập của mỗi người là rất lớn, con cái trưởng thành, lập gia đình thường sống riêng và bố mẹ cô quạnh ở trong viện dưỡng lão. Nhưng trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu. Điều quan trọng ngược lại bù đắp thiếu sót đó của người phụ nữ nằm ở chỗ mức độ “phải” đến đâu, chồng và nhà chồng đối đãi thuận lợi ngược lại nhằm bù đắp với người vợ thế nào. Vì thế, tôi muốn nói rằng văn minh phương Tây ở điểm này không phải là văn minh phương Đông do yếu tố văn hóa và giá trị tinh thần lâu đời. Vì thế, mối quan hệ trong gia đình và giá trị tinh thần ở các nước phương Đông thường cao hơn các nước phương Tây. Ngoài ra, ví dụ về ngài thủ tướng Anh cho con bú, xin thưa rằng đàn ông Việt Nam và châu Á có cách thể hiện khác với con cái để thấy rằng nghĩa vụ chăm sóc con cái không phải chỉ riêng ở người phụ nữ. Đồng thời, các nước phương Tây có thể cho rằng phụ nữ hay con cái có quyền bình đẳng ngang với đàn ông, bố mẹ, để có thể đảm bảo rằng chỉ một cái bạt tai nhẹ khi nóng giận là có thể gọi đến cảnh sát thì đó là cái nhìn quá trần trụi, phá vỡ quy tắc đạo lý trong gia đình. Tôi đưa ra quan điểm đó để nhấn mạnh rằng đàn ông không phải có quyền muốn làm gì cũng được, nhưng cũng không thể có chuyện con cái, phụ nữ muốn thế nào cũng được theo ý thích của mình. Đó là lý do tại sao trong nhà phải có nóc, trên dưới trật tự. Nếu như vợ anh “ghét” và muốn mọi thứ theo ý thích của mình thì đó không còn là cuộc sống gia đình mà là cuộc sống của những cá nhân tự do với nhau. Trong hầu hết văn hóa phương Tây, người phụ nữ có vị thế rất lớn. Điều đó có được gắn liền với quá trình phát triển nền văn minh và tranh đấu quyền bình đẳng của nữ giới trong lâu dài. Đó là điều chúng tôi cũng muốn nhưng cũng không có thể thực hiện ngay được trong ngắn hạn do còn bị ràng buộc bởi các yếu tố văn hóa, lối sống, suy nghĩ, quan điểm, nhìn nhận và sự phát triển chung của xã hội. Về quan điểm nếu người vợ cũng có con với chồng cũ, tôi không có ý kiến vì điều đó tùy nhìn nhận của mỗi người đàn ông. Đó là bởi vì đàn ông và phụ nữ do yếu tố sinh và tự nhiên cần có những vị trí khác nhau. Điều này lý giải đàn ông thường phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc kiếm tiền cho gia đình, ra chiến trường khi có chiến tranh nên rõ ràng trách nhiệm lớn hơn. Khi người phụ nữ cũng làm được như thế thì sự so sánh sẽ đem lại một câu trả lời giống nhau. Với nhìn nhận như thế, sẽ thật là khiên cưỡng khi so sánh phụ nữ, đàn ông Việt Nam với nước ngoài do tồn tại nhiều sự khác biệt.
Art CafeDu lịchVietnamKhông gian đẹpPhong thủyPhotoshopPR – Marketting – Event-AdThời trangBộ sưu tậpThư viện-Tổng hợpVăn minhVăn minh PhươngĐôngÝ tưởng sángtạoVideoVietnam’s Next TopModelVăn minhLoài người ra đời cách đây hàng triệu năm, và từ đó loài người đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh mãi đến cuối thế kỷ IV TCN, xã hội nguyên thuỷ bắt đầu tan rã ở Ai Cập, nhà nước bắt đầu ra đời,từ đó loài người mới bắt đầu bước vào thời kỳ văn đang xem Văn minh phương tây cổ đạiTrong thời cổ đại cuối thiên niên kỷ IV, đầu thiên kiên kỷ III TCN,đến những thế kỷ SCN, ở phương Đông châu Á và Đông Bắc châu Phi, có bốn trung tâm văn minh lớn Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Có một tình hình chung nổi bật là cả bốn trung tâm văn minh này đều nằm trên những vùng chảy qua của những con sông lớn. Muộn hơn một tí, ở phương Tây đã xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ văn minh Hy Lạp có cơ sở đầu tiên từ thiên niên kỷ III TCN,nhưng tiêu biểu cho nền văn minh Hy Lạp là những thành tựu từ khoảng thế kỷ VII TCN trở về sau. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầu thành lập, trở thành trung tâm văn minh thứ hai ở phương minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hoà làm một, nên hai nền văn minh này được gọi chung là văn minh vậy, trên thế giới có hai khu vực văn minh lớn phương Đông và phương Tây. Thời cổ đại, phương Đông có bốn trung tâm văn minh là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Thời trung đại, cả Tây Á và Ai Cập đều nằm trong bản đồ đế quốc Ả Rập nên phương Đông chỉ còn lại ba trung tâm văn mình Ả Rập, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong các nền văn minh ấy, văn minh Ấn Độ và Trung Quốc được phát triển liên tục trong tiến trình lịch thêm Phim Chiếu Rạp Tháng 7 2018 Hot Nhất, Lịch Phim Tháng 07/2018Ở phương Tây, thời cổ đại chỉ có nền văn minh Hy-La, đến thời trung đại cũng chỉ có một trung tâm văn minh mà chủ yếu là ở Tây Âu. Ngoài những nền văn minh ở lục địa Á, Âu, Phi, ở châu Mỹ trước khi bị người da trắng chinh phục, tại Mexico và Peru đã từng tồn tại nền văn minh của người Maya, Azteque và thời cận đại, do sự phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, nhiều nước phương Tây đã trở thành những quốc gia phát triển về mặt kinh tế và hùng mạnh về quân sự. Cùng với việc biến hầu hết các nước ở Á, Phi, Mỹ La Tinh thành thuộc địa của các cường quốc châu Âu, văn minh phương Tây đã truyền bá khắp thế giới.
Văn minh Đông phương và Tây phương là tập cảo luận đặc biệt của Nguyễn Duy Cần hiệu Thu Giang, mang tính tư tưởng tương chiếu và được thể hiện bằng ngôn ngữ nhị nguyên Âm-Dương, Đông-Tây, Hồn-Xác, Tâm-Vật, Lượng-Phẩm... Đặt ra tầm quan trọng của việc dò sâu vào bản chất của hai nền văn minh, kiểm soát bảng giá trị của chúng để tìm ra một đường hướng khả dĩ, tác giả buộc phải dùng ngôn ngữ nhị nguyên. Nhưng Nguyễn Duy Cần 1907 - 1998 cũng nhắc nhở người đọc, ngay từ chương đầu, rằng mọi định danh đều có những hạn chế và việc phân biệt Đông – Tây không phải dựa trên vị trí địa lý, Đông – Tây chính là hai “tính khí”, hai thế giới quan chủ đạo hướng nội/tâm linh và hướng ngoại/vật đọc quảng bác giúp Nguyễn Duy Cần nắm được yếu tính của hai nền văn minh này để đặt chúng lên bàn cân đối sánh. Cuốn sách của ông dựa trên rất nhiều nghiên cứu của các nhà tư tưởng, trong đó phải đặc biệt phải nhắc đến nhà sử học người Pháp René Grousset 1885-1952, người đã có một nhận định mà ông chọn làm điểm tựa “Người Đông phương bản sinh thuộc về hạng người hướng nội còn người Tây phương bản sinh thuộc về hạng người hướng ngoại.” Triển khai thêm từ nền tảng đạo học của mình, ông cho rằng Đông phương chuộng vô vi non-action, bất bạo động, giữ tâm an tĩnh giữa những biến cố. Còn người phương Tây, với tâm thức hoạt động action, tôn thờ chủ nghĩa tiến bộ, coi thành công là hướng nhắm và lúc nào cũng lao đi trên hành trình kiếm trồng vườn và người thợ gốmGiáo dục của Đông phương và Tây phương cũng phản ánh điều này. Theo Nguyễn Duy Cần, cái học ở Đông phương khuyến khích con người tìm đến “bản lai diện mục” qua tự giác, tu thân và phản tỉnh, không chú trọng mô phỏng và chạy theo cái “chí thiện” của người xung quanh, đạt đến cái “chí thiện” của chính mình. Những bậc người lý tưởng trong xã hội phương Đông là những người có sức mạnh tinh thần, vượt thẳng những vô minh dục vọng bên trong. Trong khi đó, cái học Tây phương chú trọng trang bị kiến thức cho học sinh như các công cụ vũ lực để chinh phục ngoại giới. “Sự hiểu biết theo người Đông phương là sự hiểu biết do mình tìm ra, hoặc nhờ bên ngoài khêu gợi mà khởi phát lên và chính sự hiểu biết ấy mới thật là hiểu biết. Còn cái hiểu biết do bên ngoài đem đến mà tự lòng mình không thấy rung chuyển chút nào, cái hiểu biết ấy không phải thật là hiểu biết. Bởi vậy, ta phải dùng đến trí nhớ cố gắng gìn giữ nó nơi mình một cách sống sượng miễn cưỡng như mình khoác một cái áo vào mình vậy.”Mục đích khác nhau thì phương tiện giáo dục đôi bên cũng không giống nhau - điều này được Thu Giang đã chỉ ra bằng những dẫn chứng sống động. Vì giáo dục được cá nhân hóa cao độ nên bậc tôn sư người Đông phương không thâu nhận nhiều đệ tử mà chỉ chú trọng vào số ít các truyền nhân, tùy căn cơ từng người mà dạy. Còn lối dạy dỗ của Tây phương, vốn đang hiện hữu ở tất cả mọi nơi trên địa cầu, là kiểu tạo ra một học trình chung, một khuôn mẫu áp chế cho tất cả. Học trình Tây phương thường như một mâm cỗ lý trí dọn sẵn, nhưng đồng thời cũng có nguy cơ biến học trò của mình trở thành máy móc thao thao bất tuyệt về những gì đã được “chứng minh” nhưng có thể trở nên “lỗi thời” một thời gian sau đó. Giáo dục mới ngày nay đã nhận thức được sự tai hại của việc đổ khuôn như thế nên đã bắt đầu chú tâm lấy sự phát triển cá nhân làm mục lại, ông ví nhà giáo dục Đông phương “như một người trồng vườn, còn nhà giáo dục Tây phương như một người thợ gốm. Nhà trồng vườn thì chiều theo từng loại cây mà cho phân lựa đất, cốt giúp cho mỗi thứ cây phát triển đến cùng cực sở năng sở đắc của nó; còn anh thợ gốm thì phận sự họ là lo uốn nắn vật liệu thành những món đồ theo một kiểu mẫu chung nào… theo nhu cầu của một lý tưởng hiện hành.”Kết thúc cuốn sách, Thu Giang thể hiện niềm tin vào một điểm gặp gỡ Tây phương và Đông phương nơi cội gốc truyền thống. “Tây phương hãy trở về với cái học truyền thống của mình hồi trung cổ, cái học ấy phảng phất với đạo học Đông phương, thì Tây và Đông sẽ gặp nhau, gặp nhau trên nguyên tắc đồng nhất.” “Cái văn minh trung cổ của Tây phương là một thứ văn minh phẩm gần giống với cái văn minh thuần túy của Đông phương. Từ thế kỷ thứ 18 kỹ nghệ phát sinh thì cái văn minh ấy lại điêu tàn, và nó cũng đã bắt đầu điêu tàn hồi thời kỳ Phục Hưng. Đến thế kỷ thứ 19 và nhất là 20 nầy thì văn minh truyền thống ấy đã chấm dứt. Các nhà nghiên cứu sử học của Tây phương như Guglielmo Ferrero, René Guénon, René Grousset… đều cùng nhìn nhận như thế.”Tây phương có choáng ngợp trước Đông phương mà muốn Đông phương hóa hay Đông phương vì choáng ngợp trước Tây phương mà muốn Tây phương hóa, có lẽ, những điều đó chỉ như may một chiếc áo không vừa. Thu Giang chỉ ra, nhiều học giả Tây phương tìm về sách thần học và tư tưởng Đông phương - sách của Lão Tử luôn nằm trong những cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại, Tagore được trao giải Nobel và được ái mộ khắp châu Âu - nhưng những điều đó không có nghĩa là Đông phương đang lên ngôi trong thế giới tinh thần, mà chỉ thể hiện rằng người phương Tây đang mê say, hoài nhớ một kho báu tâm linh mà họ sớm đánh mất từ thời kỳ cơ giới hóa. Như thế, mỗi khối văn minh cần tìm lại sự cân bằng trong chính mình thì họ sẽ gặp nhau. Họ học những bài học của nhau rồi cùng tiệm tiến về một điểm thích hợp, đó là những gì Thu Giang dự phóng.
Văn hóa phương Tây và phương Đông luôn mang những nét đặc trưng rất riêng. Bởi mỗi nền văn hóa đều có thời gian và địa điểm hình thành khác nhau. Đặc biệt các nền văn hóa này rất đa dạng vì mỗi chủng tộc, bộ lạc, dân tộc đều có bản sắc riêng. Mỗi một sắc tộc sẽ tạo ra từng “chất” riêng thế nên sự đa dạng của văn hóa là vô tận. Tuy nhiên, nếu nhận xét chung thì cả 2 nền văn hóa Châu Âu và Châu Á khác nhau rất nhiều. Ví dụ như quần áo, lối sống, ẩm thực,… Nếu bạn đang thích thú về chủ đề này thì hãy cùng nhau khám phá ngay dưới đây. Những nét đặc trưng của văn hóa phương ĐôngNhững nét đặc trưng của văn hóa phương TâyNhững điểm khác biệt giữa văn hóa phương Tây và ĐôngVăn hóa đời sống phương Tây và ĐôngVăn hóa luật pháp ở phương Tây và ĐôngChia sẻ Những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông Văn hóa phương Đông được hình thành từ rất sớm. Và có thể coi là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Từ những tộc người sinh sống tại đây, họ di cư đến những nơi khác nhau. Và dần hình thành nên các quốc gia riêng biệt. Trong đó bao gồm các nền văn minh là nền văn minh Trung Hoa, văn minh Ai Cập, văn minh Ấn Độ và văn minh Lưỡng Hà. Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời và phức tạp nhất trên thế giới. Đại diện cho văn hóa nước Trung Quốc cho đến ngày nay. Cũng như là có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa phương Đông nói chung. Bao gồm cả Việt Nam. Văn minh Lưỡng Hà nằm ở phía Tây châu lục bao gồm các nền văn minh người Sumer và Akkad, văn minh cổ Babylon, văn minh cổ Assyria – Tân Babylon, văn minh Phoenicia – Palestine, văn minh Israel và Judah cổ xưa. Văn minh Ai Cập chính là nền tảng của đất nước Ai Cập ngày nay. Nhưng đã được phân tách thành Châu Phi. Tương tự với văn minh Ấn Độ chính là nền tảng văn hóa của Ấn Độ ngày nay. Nếu văn hóa Trung Hoa hình thành nên những đặc điểm lễ nghi, lối sống, tư tưởng, đạo lý con người riêng biệt. Từ đó trở thành thước đo cho nền văn hóa phương Đông về sau. Thì văn hóa Lưỡng Hà lại bị ảnh hưởng bởi văn minh phương Tây, nền văn hóa Cethic, Anglo Saxon mạnh mẽ. Song họ vẫn học hỏi, tiếp thu những tư tưởng, tín ngưỡng và đạo lý từ phương Đông. Những nét đặc trưng của văn hóa phương Tây Nền văn minh phương Tây hình thành từ đầu thiên niên kỉ I TCN ở các khu vực ven biển Địa Trung Hải. Đất đai khá cằn cỗi nhưng rất đa dạng về khoáng sản. Tộc người Anglo Saxon chính là nhân tố đầu tiên để hình thàn nên người da trắng về sau. Văn hóa phương Tây thay đổi qua nhiều giai đoạn thời gian như là Phục Hưng, Cải cách kháng cách, Thời kỳ khai sáng và được lan rộng vào thời kỳ chủ nghĩa thực dân. Kiến trúc phương tây từ xưa tới nay đã nổi tiếng vì vẻ đẹp vừa mang nét cổ điển vùa có sự hiện đại. Văn hóa kiến trúc độc đáo của phương tây là niềm cảm hứng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nét kiến trúc độc đáo thể hiện được nết đẹp trong văn hóa đời sống. Chúng khiến bất kì ai cũng phải trầm trồ khen ngợi. Những lối kiến trúc tiêu biểu có thể kể đến như Kiến trúc La Mã cổ đại. Kiến trúc Roma. Kiến trúc Gothic. Kiến trúc thời kỳ phục hưng. … Mỗi quốc gia phương tây có nét riêng biệt và độc đáo trong phong cách kiến trúc. Nhưng tổng thể đều có sự hài hòa, cân đối và đầy tính nghệ thuật. Mỹ thuật phương tây có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời với nhiều giai đoạn khác nhau. Phương tây có nhiều trường phái nghệ thuật khác nhau với nhiều họa sĩ tên tuổi tạo và tác phẩm nổi tiếng thế giới. Có thể nói mỹ thuật phương tây là 1 trong những trường phái ảnh hưởng lớn nhất tới nền mỹ thuật thế giới. Những điểm khác biệt giữa văn hóa phương Tây và Đông Những đặc trưng của 2 nền văn hóa này có thể được khắc họa rõ nét giữa những đặc điểm khác biệt sau đây Văn hóa đời sống phương Tây và Đông – Văn hóa phương Tây dạy người ta các sống tự lập, phân tác. Trong khi đó người phương Đông hướng đến việc dựa vào nhau để tạo nên thể đoàn kết. – Tại phương Tây mọi người đều bình đẳng, không phân biệt địa vị, giai cấp. Trong khi tại phương Đông, tư tưởng có quyền lực, địa vị là ở trên tất cả vẫn tồn tại đến ngày nay. – Trong giao tiếp, người phương Tây thích đi thẳng vào vấn đề, nói đúng trọng tâm và thẳng thắn trong suy nghĩ. Người phương Đông tế nhị, thích nói vòng vo, nói tránh nói giảm để không làm mất lòng người khác. – Cái tôi của người phương Tây rất lớn, văn hóa phương Đông luôn đề cao tính khiêm nhường. Họ thu nhỏ bản thân để thích ứng với xã hội. – Khi thể hiện bản thân, văn hóa phương Tây luôn tự tin, mạnh mẽ. Và đứng lên nói điều mình muốn trong khi người phương Đông thường né tránh. Điều này thể hiện bản thân một cách khiêm nhường. – Mọi thứ tại phương Tây đều được đơn giản hóa, họ ăn uống đơn giản để tiết kiệm thời gian. Các mối quan hệ rành mạch, rõ ràng, thể hiện rõ cảm xúc của bản thân và nói lên điều mình muốn. Người phương Đông thường né tránh bộc lộ cảm xúc. Không thể hiện quá nhiều quan điểm cá nhân, thường có khá nhiều mối quan hệ phức tạp. Văn hóa luật pháp ở phương Tây và Đông – Văn hóa phương Đông đề cao tính tự do, dân chủ, không cần phải quá đặt nặng tiêu chí kính trên nhường dưới, ngôi xưng tương đồng, thái độ lịch sự như nhau đều được. Văn hóa phương Đông đặt nặng tính lễ nghi, tín ngưỡng và đạo lý, phảo biết tôn trọng người lớn tuổi, người có địa vị. – Văn hóa phương Tây tôn trọng luật lệ, biết tuân thủ quy định, xếp hàng khi mua sắm. Văn hóa phương Đông bất quy tắc, không biết xếp hàng, ít khi tuân thủ nội quy. – Văn hóa ẩm thực phương Tây đơn giản, khá nhàm chán và không tốt cho sức khỏe. Văn hóa ẩm thực phương Đông đa dạng, nhiều nguyên liệu, hương vị và cách thức chế biến. – Văn hóa phương Tây đề cao vẻ đẹp khỏe khắn, rám nắng, khiêu gợi, văn hóa phương Đông tôn trọng phụ nữ có nhân phẩm, biết ý tư nơi công cộng, da trắng, môi đỏ, tóc đen, nét đẹp dịu dàng, tinh tế. – Người phương Tây luôn tôn trọng giờ giấc, đả bảo đúng giờ hẹn. Người phương Đông thường trễ giờ. Với những khác biệt trong văn hóa phương Đông và phương Tây đã kể trên, ta đã phần nào khác họa được những đặc điểm của 2 nền văn minh lớn nhất trong nhân loại. Còn rất nhiều điều cho bạn khám phá, cùng tìm hiểu thêm để có được những kiến thức cho bản thân nhé. Nguồn
PHẦN MỞ ĐẦU Lịch sử văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Loài người ra đời và đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần cách đây hàng triệu năm. Ở phương Đông tức ở Châu Á và Đông Bắc Châu Phi, từ cuối thiên niên kỷ IV – đầu thiên niên kỷ III trước CN, có bốn trung tâm văn minh lớn, đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Cả 4 trung tâm này đều nằm trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile ở Ai Cập, sông Euphrates và sông Tigris ở Lưỡng Hà, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Trường Giang và Hoàng Hà ở Trung Quốc. Nhờ sự bồi đắp của những con sông này nên đất đai ở đây màu mỡ, rất thuận lợi cho nền nông nghiệp xuất hiện và phát triển và hơn thế nữa là sáng tạo những thành tựu văn minh rực rỡ. Phương Đông cũng là cái nôi của văn minh nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác Ở phương Tây xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Tuy muộn hơn phương Đông từ thiên niên kỷ III đến thiên niên kỷ II trước CN nhưng Hy Lạp đã đạt được những thành tựu to lớn. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầu xuất hiện. Kế thừa và phát huy văn minh Hy Lạp, La Mã trở thành một trung tâm văn minh lớn ở phương Tây. La Mã chinh phục Hy Lạp thế kỷ II TCN và tiếp đó chinh phục các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp ở phương Đông, trở thành đế quốc rộng lớn, hùng mạnh. Văn minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hòa đồng và tiếp biến với nó, nên người ta gọi chung hai nền văn minh này là văn minh Hy – La. Những thành tựu rực rỡ của văn minh Hi-La cổ đại được ghi vào lịch sử nhân loại như những ánh hào quang rực rỡ nhất. đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh châu Âu nói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủ mọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương Tây cổ trung đại được khẳng định và thừa nhận xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnh hưởng đến thời đại ngày nay. Nói đến văn minh Phương Đông không thể không đặt nó trong mối tương quan với văn minh Phương Tây. Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếu tính khách quan, cần đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Giữa 2 nền văn minh này có nhiều điểm giống và khác nhau, tìm ra những điểm ấy của văn minh đông – tây cũng là tìm ra mấu chốt, là chìa khoá để mở ra cánh cửa đóng kín từ lâu của thế giới cổ đại đầy bí ẩn. Với tiểu luận này, tôi xin trình bày một số điều mình nghĩ về sự giống và khác nhau giữa các quốc gia cổ đại phương đông, phương tây trong thế giới cổ đại. Khoảng 3500 năm đến 2000 năm trước công nguyên, cư dân ở Tây Á, Ai Cập và cư dân ở lưu vực các sông còn lại đã sinh sống trên đồng bằng ở ven các con sông. Họ sống bằng nghê nông là chủ yếu và biết trồng mỗi năm hai vụ. Đồng bằng ven sông đã bù đắp rất nhiều cho con người. Vào mùa mưa hàng năm, nước sông dâng cao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ và làm cho đất rất mềm, dễ làm với cả những chiếc cày bằng gỗ. Cư dân phương Đông sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trước tiên họ phải lo đến công tác thuỷ lợi. Họ đã biết đào các hệ thống kênh, lập hệ thống gầu để múc nước ở chân ruộng thấp và đưa nước lên chân ruộng cao những khi cần. Ngoài ra, họ còn biết đắp đê để ngăn lũ nhờ thế con người có thể thu hoạch lúa ổn định hằng năm. Công việc trị thuỷ khiến moi người gắn bó và ràng buộc với nhau trong tổ chức công xã. Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại Hi Lạp cổ đại Hi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thần biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nước mình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ Trung Quốc, ta gọi là Hi Lạp. Đất đai Hi Lạp cổ đại bao gồm Hi Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean tới phía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùng lục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkans. Lục địa Hi Lạp gồm 3 phần miền Bắc là vùng đồng bằng rộng lớn và quan trọng nhất Hi Lạp; miền Trung ngăn cách với phía bắc bởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trù phú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hình bàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện nhà nước thành bang đầu tiên của Hi Lạp – nhà nước Sparta. Mặc dù có nhiều đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hi Lạp không phì nhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương thực chính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai Cập. Địa hình Hi Lạp tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng có sự thuận lợi tuyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, thuận lợi cho tàu bè hoạt động. Từ đây, người Hi Lạp dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hải để giao thương. Nằm giữa vùng tiếp giáp giữa 3 châu, Hi Lạp sớm tiếp thu những thành tựu của nền văn minh phương Đông cổ đại và tạo ra một nền văn minh Hi Lạp cổ đại độc đáo và rực rỡ, với những thành tựu tuyệt vời đóng góp cho sự phát triển của văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung. La Mã cổ đại Nơi phát sinh quốc gia La Mã cổ đại là bán đảo Ý – một dải đất dài và hẹp như chiếc hia duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải với diện tích lớn gấp 5 lần bán đảo Hi Lạp. Phía Bắc có dãy núi Apels như một bức tường thành tự nhiên ngăn cách bán đảo với lục địa châu Âu; ba phía Đông, Tây, Nam đều có biển bao bọc. Dãy núi Apennines như một chiếc xương sống chạy dọc bán đảo từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khác với Hi Lạp, điều kiện tự nhiên của La Mã tương đối thuận lợi hơn. Nơi đây có nhiều đồng bằng rộng lớn, màu mỡ và phì nhiêu đồng bằng sông Pô miền Bắc, đồng bằng sông Tibrơ miền Trung, các đồng bằng trên đảo Xixin. Ở miền Nam còn có nhiều đồng cỏ rộng lớn thuận tiện cho việc phát triển nghề nông và chăn nuôi gia súc. Ở phía Tây và Nam, bờ biển có nhiều cảng, tàu bè ra vào dễ dàng, thuận lợi cho giao thông và buôn bán. Tóm lại đặc điểm kinh tế. Kinh tế của họ phát triển đến thời cổ đại đều đã kinh qua nền sản xuất nguyên thuỷ, công xã thị tộc. Hay nói cách khác sự tan rã của nền kinh tế nguyên thuỷ là tiền đề để hình thành nền kinh tế cổ đại ở cả các quốc gia phương đông và phương tâyì đều trải qua nền sản xuất nguyên thuỷ nên họ đều có những điểm giống nhau, đều trải qua mô hình sản xuất công xã thị tộc, công xã nông thôn, đều có nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp -Kinh tế của họ phát triển đều dựa vào điều kiện tự nhiên, phát huy thế mạnh mà tự nhiên ban tặng cũng như hạn chế đến mức tối đa các khó khăn từ điều kiện tự nhiên gây ra với kinh tế ở phương đông là tận dụng lương mưa và đất phù sa để phát triển nông nghiệp, hạn chế hậu quả do lũ lụt gây ra, ở phương tây là phát huy thế mạnh về hàng hải và thủ công nghiệp, hạn chế khó khăn do thiếu hụt lương thực gây raở phương tây, đất đai không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nên phải dựa vào thương nghiệp để mua lương thực cho những năm mất mùa Ở cả các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều đã có đủ sự khác nhau chỉ ở chỗ họ lấy nghành kinh tế nào là mũi nhọn để phát triển mà thôi. Ở phương Đông đặc trưng kinh tế của họ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cấp,tự túc tế thủ công nghiệp và thương nghiệp có tồn tại nhưng không có điều kiện phát triển, được coi như nghề phụ trong những lúc nông nhànái lại các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế chủ yếu của họ là thủ công nghiệp và thương là nơi hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá cổ đại đây ta sẽ đi rõ vào chi tiết từng ngành sản xuất để thấy rõ hơn sự khác biệt trên nông nghiệp các quốc gia cổ đại phương đông nông nghiệp trồng lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại phương đông. Bên cạnh việc lấy nghề nông làm gốc, cư dân phương đông thời cổ đã biết chăn nuôi gia súc như bò, cừu, lợn , và biết trồng các loại ngũ cốc khác nhau như ngô, lúa mạch, kê, vừng và các loại cây ăn quả khác. Chính vì các nghành nông nghiệp phát triển theo hướng tự túc, tự cấp như vậy nên kinh tế hàng hoá không phát triển, nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hoá ít. Lối sản xuất này của họ đã gần như bóp nghẹt kinh tế công thương nghiệp và tạo ra sự trì trệ tương đối nhưng vì 3 trong 4 quốc gia cổ đại phương đông nằm biệt lập với thế giới bên ngoài nên nền kinh tế tự túc, tự cấp là phù hợp với điều kiện phát triển của họ. Chỉ có Lưỡng Hà nằm ở nơi địa hình bằng phẳng nên phát triển hơi khác về kinh tế họ phát triển công thương nghiệp và là một trung tâm thương nghiệp lớn trong thế giới cổ đại họ có nhiều nét giống các quốc gia cổ đại phương tây nhưng về bản chất họ vẫn lấy nghề nông làm gốc điều này thể hiện rất rõ qua bộ luật Hammurabi bộ luật thành văn đầu tiên của thế giới bộ luật này chủ yếu bảo vệ nông nghiệp và quan hệ sản xuất nông nghiệp. 1Ở các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế nông nghiệp không phát triển như các quốc gia cổ đaị phương đông. Nền nông nghiệp của họ chủ yếu gắn với thị trường và phục vụ nhu cầu của thị trường. Cây trồng chính của họ không phải là cây lúa nước họ chủ yếu trồng lúa mì và các cây công nghiệp lâu năm như nho, ô liu Như vậy ta có thể thấy nền nông nghiệp của họ không chỉ để phục vụ nhu cầu cá nhân mà còn phục vụ nhu cầu của thị trường. Từ đó ta có thể thấy rõ sự phát triển của yếu tố thị trường trong sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là sự khác nhau cơ bản của sản xuất nông nghiệp phương đông và phương tây. 2. Trong thủ công nghiệp các quốc gia phương đông họ đã biết làm nhiều nghề thủ công với những dấu ấn riêng ở mỗi quốc gia như đồ gốm sứ ở Trung Quốc, Lưỡng Hà, dệt ở Trung Quốc, làm giấy ở Ai Cập nhưng kinh tế thủ công nghiệp ở đây vẫn bị cho là nền kinh tế bổ trợ cho nông nghiệp. Vì vậy độ chuyên môn hoá trong sản xuất thủ công nghiệp chưa cao. Ở nhiều nơi nghề thủ công chỉ được coi như “nghề phụ” là việc sông Nin ở Ai Cập, Sông Tigơrơ và Ơphơrát ở Lưỡng Hà, Sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc. Chính các con sông này đã tạo nên các đồng bằng phì nhiêu, các vụ mùa bội thu và quan trọng nhất là tạo ra các nhà nước cổ đại phương đông. Không một quốc gia phương đông cổ đại nào mà lại không có một dòng sông lớn chảy qua. Nhờ lớp đất phù sa có nơi dày tới vài mét nên nông nghiệp phương đông vẫn phát triển dù thời kì đó công cụ lao động của họ chủ yếu là gỗ, đá và đồng đỏ họ có thể canh tác mà không cần công cụ bằng sắt. Một yếu tố tự nhiên khác làm cho sự phân hoá đông – tây là khí hậu và địa hình. Như ta đã biết một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì phải dựa vào điều kiện khí hậu và địa hình. Ví dụ ở nước ta cũng như đa số các quốc gia phương đông nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển do nó hình thành trên cơ sở các đồng bằng rộng lớn có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Sở dĩ 2 yếu tố này đi với nhau vì nó bổ xung lẫn nhau vì có những nơi như ở La Mã cổ đại có các đồng bằng khá lớn như đồng bằng Pô và đồng bằng Tibrơ nhưng nền kinh tế nông nghiệp không dữ vai trò chủ đạo vì khí hậu ở đây là khí hậu Địa Trung Hải tuy có nhiều nét giống với khí hậu nhiệt đới nhưng lượng mưa hàng năm ít hơn nhiều, còn ở một số vùng như ở Trung Phi và một số vùng núi cao ở nước ta lượng mưa trong năm khá cao nhưng do địa hình gồ ghề không có các đồng bằng châu thổ rộng lớn nên không có điều kiện phát triển nhà nước. Theo như những gì nãy giờ ta phân tích về sự quan trọng của sông ngòi, địa hình, khí hậu làm nền tảng cho nền nông nghiệp phương đông thì những điều kiện đó không có đủ như ở các quốc gia phương tây. Vậy cơ sở tự nhiên để hình thành các quốc gia cổ đại phương tây là gì? Như đã nói từ đầu nền kinh tế các quốc gia cổ đại phương tây là nền kinh tế dựa trên sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp, nông nghiệp chỉ là thứ yếu, là nguyên liệu cho thủ công nghiệp và thương nghiệp vì thế các quốc gia cổ đại phương tây không cần các điều kiện như ở phương đông. Nhưng họ cũng là con người, cũng phải tuân theo các quy luật nhất định nhà nước chỉ hình thành khi kinh tế đạt đến một mức nào đó khi mà quan hệ công xã thị tộc bị giải thể vì sự tư hữu trong tư liệu sản xuất. Các quốc gia phương tây không cần các điêu kiện như phương đông vì họ dựa trên thủ công nghiệp và thương nghiệp. Hi Lạp và La Mã đều là các quốc gia nằm trên các bán đảo lớn ăn ra biển, có nhiều vũng, vịnh kín gió thuận lợi cho phát triển hàng hải. Hơn nữa 2 bán đảo Bancăng và Italia đều nằm trong vùng biển Địa Trung Hải vùng biển này 3 mặt là 3 châu lục Á, Phi, Âu bao bọc nên tương đối yên bình, ít bão lớn. Vì thế từ thời cổ đại khi kĩ thuật đóng tàu chưa phát triển hoàn thiện người ta vẫn có thể vượt biển để buôn bán. Đất đai và khí hậu ở đây tuy không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước nhưng bù lại khí hậu và đất đai ở đây lại thuận lợi cho việc trồng một số cây công nghiệp lâu năm như nho, ôliu. Đây là nguyên liệu để sản xuất rượu nho và dầu ôliu 2 mặt hàng có thể cho là “đặc sản” của các quốc gia cổ đại phương tây. Hơn nữa đất đai của họ không thích hợp với sản xuất nông nghiệp nên để có nguồn lương thực đáp ứng nhu cầu họ phải tiến hành trao đổi, buôn bán với các quốc gia dồi dào lương thực ở phương đông như Ai Cập, Lưỡng Hà đây cũng là những thị trường tiêu thụ rộng lớn của họ. 3. So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về chính trị – xã hội Cũng giống như về kinh tế, về chính trị – xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây có những nét giống và khác nhau nhất định. 3. Giống nhau Do cùng trải qua xã hội nguyên thuỷ trước khi hình thành các quốc gia cổ đại của mình nên giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có những nét giống nhau. Cơ sở của việc hình thành nhà nước là sự phân chia giai cấp và sự tư hữu về tư liệu sản xuất nên xã hội cổ đại phương đông và phương tây đều chia làm 2 tầng lớp là tầng lớp thống trị bao gồm tăng lữ, quý tộc ở phương đông và chủ nô ở phương tây, tầng lớp bị trị là những nông dân công xã, dân tự do và nô lệ. chưa có sự xuất hiện của công cụ bằng sắt. “Thậm chí người Ai Cập mới chỉ biết đến công cụ bằng đá và gỗ”Lịch sử thế giới cổ trung đại. Trong khi đó các quốc gia cổ đại phương tây bước vào quá trình hình thành nhà nước muộn hơn nhiều theo một số tài liệu thì đó là vào khoảng thế kỉ VIII- VII TCN. Đây cũng là sự khác nhau về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây. Điểm khác nhau tiếp theo về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là các quốc gia cổ đại phương đông tồn tại một cách khá cách biệt với thế giới bên ngoài nên họ tồn tại và phát triển một cách khá độc lập liên tục mà không chịu ảnh hưởng của nền văn minh nào khác từ bên ngoài nếu bị xâm lược thì thường giành lại độc lập sau đó. Trong khi đó chính trị, xã hội của các quốc gia cổ đại phương tây chịu ảnh hưởng khá lớn từ các lực lượng bên ngoài. Họ thường phải chịu những cuộc xâm lược của các bộ tộc khác tiêu biểu là cuộc xâm lược của người Giecmanh cuộc xâm lược này đã làm sụp đổ đế chế La Mã đồng thời cũng chấm dứt lịch sử cổ đại châu Âu mở ra thời kì phong kiến. Về mặt tổ chức nhà nước thì các quốc gia cổ đại phương đông lãnh thổ của họ thường khá rộng lớn và là một nhà nước thống nhất ví dụ như Ai Cập, Trung Quốc, Lưỡng Hà. Lịch sử Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc cũng có một số thời kì bị chia cắt nhưng các vùng chia cắt thường không khác nhau lắm về chính trị, xã hội, hơn nữa thì chúng thường được nhanh chóng thống nhất trở lại. Nhưng ở các quốc gia cổ đại phương tây đặc biệt là ở Hi Lạp cổ đại, nhà nước của họ tồn tại dưới hình thức thành bang tức là trên lãnh thổ đó tồn tại nhiều tiểu quốc nhỏ với chế độ tổ chức nhà nước khác nhau giữa các thành bang không có sự giống nhau ví dụ thành bang Aten là thành bang có hình thức hội đồng 500 và hội đồng công dân đứng đầu là 10 nhà chiến lược kiệt xuất được bầu chọn, ở Xpác cũng có hội đồng nhân dân nhưng chủ chốt lại là ở 2 vua và 5 quan giám sát. Ở Rôma thời kì đế chế tuy lãnh thổ mở rộng nhưng về bản chất vẫn không có sự quản lý chặt chẽ thành một khối như ở các quốc gia cổ đại phương đông. Sự khác nhau về xã hội Theo quy luật khách quan của lịch sử thì tiếp theo xã hội cổ đại sẽ là xã hội chiếm nô nhưng do một số nguyên nhân về điều kiện tự nhiên và xã hội nên ở phương đông tồn tại một cách dai dẳng chế độ công xã nông thôn 1 hình thức tổ chức xã hội mà trong đó duy trì nền kinh tế tự nhiên và nhiều tàn dư của công xã nguyên thuỷ. Vì vậy nên xã hội chiếm nô ở phương đông không phát triển đến mức thành thục, điển hình như ở các quốc gia phương tây nơi số lượng nô lệ đông gấp hàng chục lần chủ nô và bình dân. Điều khác nhau tiếp theo giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là về lực lượng chính lao động để làm ra của cải vật chất. Ở các quốc gia phương tây với nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, lực lượng chính làm ra của cải vật chất là những người nô lệ, một thứ “công cụ biết nói”, còn ở các quốc gia cổ đại phương đông với nền kinh tế nông nghiệp phát triển thì vai trò này thuộc về những nông dân công xã. Lực lượng lao động chính khác nhau cũng cho thấy sự khác nhau về bản chất xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia cổ đại phương tây. Do sự khác biệt trong lực lượng sản xuất chính giữa xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây nên mâu thuẫn xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng khác nhau. Ở xã hội cổ đại phương đông dó là mâu thuẫn giữa 2 giai tầng chính là giai cấp thống trị vua, quan, quý tộc và giai cấp bị trị nông dân công xã, nô và thợ thủ công. Ở các quốc gia cổ đại phương tây thì có vẻ phức tạp hơn vì ngoài 2 giai cấp đối kháng là chủ nô và nô lệ thì lại có thêm một tầng lớp không bóc lột ai nhưng cũng không bị ai bóc lột, họ là những người dân tự do nghèo, Mác đã gọi họ là tầng lớp “vô sản ăn bám” họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội mà không cần phải lao động gì. Đó cũng là sự khác biệt giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia đại phương tây. Trong cơ cấu xã hội của các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có chủ chủ nô ở phương tây. Do ở phương đông nền kinh tế nông nghiệp tự túc, tự cấp phát trỉển còn ở phương tây có nền kinh tế hàng hoá, công thương nghiệp phát triển nên yêu cầu về chính trị, xã hội khác nhau. Ở phương đông với nền kinh tế nông nghiệp thì thuỷ lợi là vấn đề hàng đầu, nhưng trị thuỷ phải có sự góp sức của nhiều người vì thế chế độ tập quyền chuyên chế giúp vua có khả năng trong điều hành các công việc chung dễ dàng hơn. Ngoài ra các vị vua phương đông thường mượn thần quyền để tăng uy tín của mình. Trái lại ở phương tây họ hình thành các quốc gia cổ đại muộn hơn nên có thể tiếp thu thành tựu phương đông. Trong các quốc gia phương đông cổ đại Lưỡng Hà là nước dân chủ hơn cả cộng thêm với việc thương nghiệp ở đây phát triển nên theo tôi các quốc gia phương tây đã học tập và hoàn thiện chế độ ở Lưỡng Hà và lập ra các nhà nước dân chủ chủ nô nhằm hạn chế sự chuyên quyền của vua đồng thời tạo tính dân chủ trong xã hội. Hơn nữa nền kinh tế công thương nghiệp của họ không cần có một vị vua chuyên quyền để cai trị, nền kinh tế công thương coi trọng sự công bằng hơn nữa họ muốn không chỉ có địa vị kinh tế mà còn có địa vị xã hội nên đó cũng có thể là lý do hình thành nhà nước dân chủ chủ nô ở các quốc gia cổ đạu phương tây. Nguyên nhân nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây phát triển một cách thuần thục và điển hình trong khi ở các quốc gia phương đông thì không do ở phương tây, kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ lực lượng dân tự do không đáp ứng kịp từ đó nảy sinh nhu cầu cần một lực lượng chính chuyên môn hoá sản xuất, phục vụ cho nhu cầu công thương nghiệp hơn nữa giữa các quốc gia cổ đại phương tây thường sảy ra chiến tranh để cướp đoạt nô lệ, của cải vì thế số lượng bình dân giảm nhưng số lượng nô lệ lại tăng vì thế bóc lột bình dân như ở các nước phương đông không không còn phù hợp. Vì thế theo em ban đầu nô lệ ở phương tây cũng mang tính gia trưởng như ở phương đông nhưng sau đó do nhu cầu phát triển kinh tế công thương nghiệp nên xã hội chiếm nô ở đây ngày càng phát triển tới mức thành thục và điển hình. Nguyên nhân của sự chênh lệch về thời gian hình thành giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khí hậu phù hợp, đất phù sa màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợp nhất thành các liên minh bộ lạc lớn rồi từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thế ngay cả khi loài người còn đang ở thời kì đá – đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưa xuất hiện thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước cổ đại. Trái lại, ở phương tây đất canh tác không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp để canh tác nông nghiệp vì thế chỉ khi công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I TCN thì các quốc gia cổ đại phương tây mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao các quốc gia phương tây phát triển công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp ở thời đồ sắt lý do rất đơn giản vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hình thức kinh tế giúp con người tồn tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp phát triển kể cả các quốc gia phương tây vì nông nghiệp là cơ sở để duy trì sự tồn tại của xã hội Nguyên nhân sự khác nhau về giai cấp đối kháng giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâylý do sự khác nhau đó đến từ thể chế chính trị, xã hội. Ở các quốc gia phương đông cổ đại hình thức chính trị xã hội chủ yếu của họ là hình thức tập quyền chuyên chế vì thế mâu thuẫn giai cấp chủ yếu sảy ra giữa nông dân công xã và quý tộc, quan lại trong khi đó ở các quốc gia cổ đại phương tây nền dân chủ chủ nô phát triển mâu thuẫn chủ yếu là giữa chủ nô và nô lệ nhưng trong xã hội cổ đại phương tây lại có sự phức tạp hơn phương đông ở chỗ ngoài hai giai cấp đối kháng chủ yếu là chủ nô và nô lệ còn xuất hiện giai cấp bình dân họ không bị bóc lột như nô lệ nhưng cũng không bóc lột trực tiếp đối với nô lệ họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội giai cấp vô sản ăn bám. Giai cấp này hình thành trên cơ sở sự phát triển của chế độ chiếm nô khi của cải trong xã hội đã tích luỹ 1 lượng của cải đủ nuôi sống cả xã hội. Họ sống nhờ vào chính quyền chiếm nô nên có quan hệ lệ giai đoạn lịch sử đông Ktruc cổ của các nước phương Đông có đặc điểm là thường gắn với tôn giáo, người pđ rất trọng tâm linh nên họ thường tập trung của cải, sức lực để xây dựng các đền tháp đồ sộ để mời các vị thần về, cầu mong các thần phù hộ. Do đó, ở Phương Đông nhiều công trình mang tính chất tôn giáo đã ra đời và dựng lên ở hầu khắp các nước một tấm thảm nghệ thuật vô cùng đa dạng và huyền bí. Từ những tác phẩm nhỏ bé và tinh xảo tới những công trình khổng lồ , vừa mang nét thiêng liêng phồn thịnh của nền mỹ thuật Ấn Độ lại có những tác phẩm mang vẻ đẹp tinh vi óng chuốt của phong cách siêu quán Trung Hoa. Có thể nói, trong quá trình phát triển văn minh, người Phương Đông nói chung và người Ai Cập cổ đại nói riêng đã tạo ra những di sản văn hóa cực kỳ quý báu và đồ sộ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kiến trúc Ai Cập cổ đại đã đạt tới một trình độ rất cao. Kiến trúc Ai Cập cổ đại chủ yếu là các đền đài tôn giáo với các cấu trúc khổng lồ và sự thần bí của không gian, được xác định bởi các bờ tường dày và dốc với ít lỗ mở. Các công trình kiến trúc tiêu biểu là cung điện, đền miếu và đặc biệt là Kim tự tháp. Nói đến Ai Cập người ta nghĩ ngay đến những Kim tự tháp đứng sừng sững giữa sa mạc mênh mông. Chúng như những tấm bia khổng lồ ghi lại một thời đại huy hoàng trong lịch sử kiến trúc nhân loại, thể hiện được sức sáng tạo kỳ diệu của những người xây dựng nên nó. Bằng bàn tay và khối óc của mình, người dân Ai Cập cổ đại đã để lại cho nền văn minh nhân loại những giá trị nghệ thuật kiến trúc vô giá. Bên cạnh những giá trị về mặt kiến trúc, Nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cũng có nhiều thành tựu lớn, thành tựu đó biểu hiện ở hai mặt tượng và phù điêu. độc đáo nhất trong lĩnh vực điêu khắc của Ai Cập cổ đại là tượng Xphanh khổng lồ gọi là nhân sư, là những bức tượng mình sư tử, đầu người hoặc dê. Đây là một quái vật huyền thoại của người Ai Cập, thể hiện sức sáng tạo kỳ diệu của người dân Ai cập cổ xưa. Ngoài những công trình lớn nêu trên, mỹ thuật Ai Cập Cổ đại còn đạt tới trình độ hoàn hảo, trong các tranh tượng vừa và nhỏ, theo phong cách tả thực rất tinh vi và đặc sắc trong đó kết hợp chặt chẽ giữa điêu khắc và hội họa. Các tác phẩm tiêu biểu như Tượng đá vôi màu ; Viên thư lại ngồi ,tượng gỗ Cheikh e Beled là tượng gỗ vào loai đẹp và cổ nhất Ai Cập còn lưu lại đến ngày nay. Phù điêu đá vôi Tigrane Pacha. tượng đồng Reine Karomama. Đặc biệt bức phù điêu tuyệt đẹp trên đá tô màu Seti I và Nữ Thần Hathor Nằm ở khu vực Tây Á, Lưỡng Hà cổ đại thuộc vùng đất nằm trong lãnh thổ hai nước Irắc vàCoóet đai Lưỡng Hà được hai con sông Tigre và Euphrate bồi đắp phù sa màu mỡ. Ở đây đã có một nền nghệ thuật phát triển rất cao, nhưng do điều kiện địa lý, họ đã phải dùng nhiều vật liệu không bền như gạch không nung trong kiến trúc, nên nhiều công trình bị động đất và thời gian tàn phá. Thời cổ đại, các công trình kiến trúc chủ yếu là tháp, cung điện, đền miếu, thành, vườn hoa,. Nổi lên trên quần thể kiến trúc thành, cung điện là vườn treo Babilonàn bộ vườn treo thực chất là một vườn hoa được tạo dựng trên không, được xây dựng vào cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VI TCN. Đây là công trình kiến trúc, là chứng tích cho một huyền thoại về tình yêu cuồng nhiệt của những vị vua, hoàng hậu, và công chúa xinh đẹp xứ Mađi. Nghệ thuật điêu khắc gồm tượng và phù điêu. Những tác phẩm tương đối tiêu biểu là “ bia diều hâu” 2800 Tr được tạc để kỷ niệm chiến thắng của Vua thành Lagash , bia Naram Sin khoảng 2700 Tr , Bảo tàng Louwre bia này làm bằng sa thạch đỏ cao 2 mét nay còn nguyên vẹn , vốn là để kỉ niệm chiến thắng của vua Naram Sin. các tượng Vua Goudea 2400Tr là đỉnh cao của nghệ thuật Sumer và Akkad với phong cách dứt khoát và mạnh mẽ. Ngoài ra ta còn biết tài hoa của các nghệ sỹ qua Con dấu trục , “Cột đá naramxin”, “bia điều luật Hamourabi”, phù
so sánh nền văn minh phương đông và phương tây